Loãng xương hiện nay là vấn đề có tính toàn cầu vì ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế, sức khoẻ và nguy cơ tử vong của bệnh nhân. Trên thế giới hiện có trên 200 triệu người bị loãng xương và tại Việt Nam là 2,8 triệu người. Dự báo đến năm 2030, số người bị loãng xương ở Việt Nam có thể sẽ lên đến 4,5 triệu người (tăng 172% – 174 %). Vậy thuốc điều trị loãng xương là những thuốc gì? Những gì cần lưu ý khi sử dụng các thuốc điều trị loãng xương? Dưới đây là một số thông tin về các thuốc điều trị:
1. Nhóm biphosphonat điều trị và phòng ngừa loãng xương
- Nhóm này gồm các thuốc etidronat, clodronat, tiludronat, neridronat, olpadronat, ibandronat, alendronat, risedronat, pamidronat, zoledronat.
- Nhóm biphosphonat được chỉ định nhiều và rộng rãi trong các trường hợp điều trị và phòng ngừa loãng xương, bệnh viêm xương biến dạng (bệnh Paget)…cho cả nam và nữ.
Cách dùng:
- Trong các thuốc trên có ibandronat dùng chích tĩnh mạch mỗi 3 tháng/lần và acid zoledronic dùng chích tĩnh mạch mỗi năm/ 1 lần. Các thuốc khác dùng dưới dạng viên mỗi ngày hay mỗi tuần, mỗi tháng tuỳ vào hàm lượng của thuốc.
Tác dụng phụ:
- Gây kích ứng hệ tiêu hoá nhiều khi dùng đường uống. Do vậy, cần phải ngồi hay đứng sau khi uống thuốc trong khoảng thời gian 30-60 phút.
- Dùng đường chích tĩnh mạch có triệu chứng sốt ớn lạnh như bị cúm trong lần chích đầu tiên.
- Dị ứng nổi mề đay, viêm mống mắt, suy thận, tiêu xương hàm do hoại tử, chóng mặt, mệt mỏi, đau cơ.
- Các tác dụng phụ tuy nhiều nhưng lợi ích của thuốc trên việc điều trị loãng xương là không thể chối cãi.
2. Hormon cận giáp (PTH = parathyroid hormon) loãng xương ở phụ nữ.
- PTH làm tăng hoạt tính của enzym 1-á-hydroxylase làm biến đổi 25-hydroxycholecalciferol thành 1,25-dihydroxycholecalciferol là dạng có hoạt tính của vitamin D trong cơ thể nên làm tăng nồng độ Calcium trong máu.
- PTH được sử dụng trong các trường hợp loãng xương ở phụ nữ, tăng mật độ xương, giảm nguy cơ gãy xương sống, xương đùi.
- loãng xương, thuốc, thuốc điều trị, Calcitonin, vitamin D
- Loãng xương đang ngày càn gia tăng, đặc biệt ở phụ nữ
3. Raloxifen và dẫn chất ngừa loãng xương ở phụ nữ mãn kinh
- Là chất điều hoà chọn lọc trên thụ thể của estrogen (SERM = ive estrogen receptor modulator) được sử dụng để ngừa loãng xương trên phụ nữ mãn kinh. Các thuốc dẫn chất là lasofoxifen và basedoxifen đang được nghiên cứu ở giai đoạn cuối hy vọng sẽ có mặt sớm trên thị trường.
Chống chỉ định:
- Phụ nữ có thai do là chất gây quái thai
- Phụ nữ có tiền sử bị huyết khối tắc nghẽn tĩnh mạch bao gồm huyết khối tắc mạch sâu, tắc nghẽn phổi và tắc võng mạc, các phụ nữ mẫn cảm với raloxifen.
Tác dụng phụ:
- Thường gặp là cảm giác nóng bừng, chuột rút chân, đau chân, máu vón cục, đau lưng, rối loạn thị giác.
4. Calcitonin phòng ngừa gãy xương cột sống
- Calcitonin còn được gọi là thyrocalcitonin là một chuỗi polypeptid gồm 32 acid amin được sản xuất từ tế bào C của tuyến giáp ở người và ở mang trước của cá và một số động vật khác.
- Trên thị trường hiện nay đa số chế phẩm là calcitonin cá hồi (calcitonin salmon).
- Thuốc thường ở dạng xịt mũi (nasal) hay dạng tiêm truyền trong dung dịch NaCl, glucose (infusion). Nghiên cứu trên 511 bệnh nhân cho thấy calcitonin hiệu quả trong phòng ngừa gãy xương cột sống là 18-33% với liều 100-400 đơn vị (Chesnut CH 3rd et al, Am J Med, 2000;109:267-276.
Cảnh báo: Ngày 20/07/2012 Uỷ ban các sản phẩm thuốc dùng cho người (CHMP) thuộc cơ quan quản lý dược phẩm chấu Âu EMA đã có thông báo: do có chứng cứ tăng nguy cơ gây ung thư nên calcitonin phải được chỉ định ngắn hạn với mức liều tối thiểu có hiệu quả trên bệnh nhân. Cụ thể là:
- Bỏ dạng xịt mũi
- Không chỉ định điều trị loãng xương
- Được chỉ định dạng tiêm truyền cho bệnh Paget (nhưng là chọn lựa 2 khi không đáp ứng chế độ điều trị khác, bệnh tăng Calci máu ác tính. Thời gian điều trị tối đa 3-6 tháng và nên điều trị gián đoạn.
5. Strontium ranelat điều trị loãng xương cho phụ nữ sau mãn kinh
- Thuốc này đã được sử dụng rộng rãi ở hơn 70 quốc gia để điều trị loãng xương cho phụ nữ sau mãn kinh (FDA Mỹ chưa chấp nhận). Thuốc cho thấy có hiệu quả tốt trong việc làm giảm tỉ lệ gãy xương đùi và cột sống ở phụ nữ loãng xương.
Cảnh báo: Ngày 16/03/2012, CHMP đã kết luận thuốc này vẫn có tác dụng điều trị cho các bệnh nhân nữ bị loãng xương nhưng cần bổ sung thêm các chống chỉ định và cảnh báo để kiểm soát tốt hơn các nguy cơ của thuốc. Cụ thể là:
Không kê đơn:
- Bệnh nhân bị huyết khối tĩnh mạch, tiền sử có huyết khối tĩnh mạch
- Bệnh nhân bất động tạm thời hay dài ngày.
- Bệnh nhân phải nhận thức được về thời gian khởi phát và cách nhận biết được các triệu chứng, dấu hiệu của phản ứng da nghiêm trọng như hội chứng DRESS (phát ban do thuốc có kèm tăng bạch cầu ưa acid và các triệu chứng toàn thân), hội chứng SJS (hội chứng Stevens-Johnson) và TEN (hoại tử nhiễm độc biểu bì). Hai hội chứng sau xảy ra trong vòng 1 tuần đầu tiên điều trị và hội chứng DRESS xảy ra sau 3-6 tuần.
- Bệnh nhân phải được ngưng điều trị ngay lập tức khi thấy có các triệu chứng của phản ứng dị ứng nghiêm trọng và không được sử dụng lại thuốc này.
- Bộ Y Tế và Cục Quản Lý Dược Việt Nam cũng đã có công văn thông báo đến các cơ sở điều trị về việc sử dụng hai thuốc calcitonin và strontium.
6. Calcium và vitamin D (hay dẫn chất của vitamin D) bổ sung điều trị loãng xương
- Là 2 chất luôn có mặt trong phác đồ điều trị loãng xương bổ sung cho các thuốc đã nêu trên.
- Calcium nên sử dụng loại Calcium hữu cơ (các muối hữu cơ như gluconat, lactobionat, glucoheptonat Ca…) dễ hấp thu hơn các muối vô cơ (carbonat, phosphat, Ca clorid…). Ngoài ra, thức ăn giàu Calcium cũng được khuyên dùng để bổ sung nguồn Calcium hữu cơ cho cơ thể.
- Vitamin D tự cơ thể có thể tổng hợp được từ các nguồn tiền vitamin D nhờ xúc tác của ánh nắng mặt trời. Một số thực phẩm giàu vitamin D như gan cá thu, mỡ động vật, bơ, sữa, trứng. Do vitamin D tan trong dầu nên trong khẩu phần ăn hàng ngày cần bổ sung lượng dầu thực vật hay mỡ động vật. Một chế độ ăn không cân bằng kiêng khem dầu mỡ thái quá sẽ làm khó hấp thu vitamin D nói riêng và các vitamin tan trong dầu khác như A, E, K.
- loãng xương, thuốc, thuốc điều trị, Calcitonin, vitamin D
Calcium và vitamin D bổ sung điều trị loãng xương
Phòng ngừa loãng xương và gãy xương
Ngoài việc bổ sung thực phẩm giàu Calcium và cố gắng hạn chế các yếu tố nguy cơ đã viết ở phần trên như bia, rượu, thuốc lá, nguy cơ té ngã do giảm thị lực, do các động tác dễ gây gãy xương nhất là sau khi đã bị gãy xương một lần rồi (cúi gập người, nhấc các vật nặng, tránh cúi xuống hay ngửa lên đột ngột), chữa trị các bệnh (suy giảm trí nhớ, bệnh gan thận, dạ dày…), giảm các thuốc chống co giật, thuốc glucocorticoid, thuốc trị tăng huyết áp… thì tăng cường vận động và tập thể dục (phải phù hợp với thể trạng của cơ thể) là biện pháp phòng ngừa tốt nhất cho bệnh loãng xương.
Thực phẩm hỗ trợ ngăn ngừa loãng xương
- Cua đồng: 2.520 Ca (mg)/100 g
- Tép khô: 2.000 Ca (mg)/100 g
- Mè (vừng): 1.200 Ca (mg)/100 g
- Tôm đồng: 1.120 Ca (mg)/100 g
- Sữa bột toàn phần: 939 Ca (mg)/100 g
- Phô mai: 760 Ca (mg)/100 g
- Nước mắm cá: 386 Ca (mg)/100 g
- Mộc nhĩ: 357 Ca (mg)/100 g
- Cần tây: 325 Ca (mg)/100 g
- Sữa đặc có đường: 307 Ca (mg)/100 g
- Rau đay: 182 Ca (mg)/100 g
- Rau mồng tơi: 176 Ca (mg)/100 g
- Rau ngót: 169 Ca (mg)/100 g
- Đậu tương (đậu nành): 165 Ca (mg)/100 g
- Lòng đỏ trứng vịt : 146 Ca (mg)/100 g
- Hến: 144 Ca (mg)/100 g
- Lòng đỏ trứng gà: 134 Ca (mg)/100 g
- Sữa bò tươi: 120 Ca (mg)/100 g
- Sữa chua: 120 Ca (mg)/100 g
- Rau muống: 100 Ca (mg)/100 g
Loãng xương là một bệnh diễn tiến thầm lặng ít được chú ý nhưng để lại hậu quả nặng nề cho bản thân bệnh nhân khi tiến triển nặng bị gãy xương (bất động, biến đổi tâm sinh lý, tăng nguy cơ tử vong) và gia đình (không lao động được, cần có người chăm sóc), gánh nặng cho xã hội (với chi phí điều trị cao, thời gian nằm viện dài, số lượng bệnh nhân rất lớn). Bệnh loãng xương cần được tuyên truyền rộng rãi và bản thân mỗi người cần hiểu rõ sự nguy hiểm của bệnh để tích cực phòng ngừa.
PGS.TS. Lê Minh Trí
Bộ môn Hoá Dược, Khoa Dược, ĐHYD TP.HCM
Dược & Mỹ phẩm
Nhận xét